Hiển thị các bài đăng có nhãn Bài viết hay. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bài viết hay. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 20 tháng 7, 2010

Những chiêu làm giá mới

Các đội làm giá thay vì chỉ biết đến lợi nhuận cho mình đã chia sẻ lợi ích cho các đối tác nhiều hơn. NĐT cá nhân hiện nay cũng có cái nhìn khác đối với CP bị làm giá.
Những kiểu làm giá thô sơ như việc gom mua, đánh lên như BMC, TCT hay LBM trước đây đã không còn, thay vào đó là những chiêu thức tinh vi hơn.
Buôn có bạn, bán có phường
Để CP thu hút được NĐT cá nhân hiện nay phải thỏa mãn ít nhất 3 tiêu chí theo thứ tự sau: yếu tố đầu cơ, thanh khoản và thông tin. Hai tiêu chí sau chính là biểu hiện cho sự “khó tính” của NĐT cá nhân trong thời điểm hiện nay cũng như vai trò chủ động trong việc tiếp cận CP.
Mở rộng hợp tác
Một số NĐT sử dụng phân tích kỹ thuật đã phải thừa nhận việc ngồi nhà theo dõi biểu đồ, từ đó ra quyết định đầu tư đang ngày càng kém hiệu quả vì khi một thông tin xấu bất ngờ xuất hiện diễn biến giá CP có thể thay đổi 180 độ. Thay vào đó, NĐT hiện nay có xu hướng bắt tay chia sẻ thông tin cùng nhau, và kết quả là sự nở rộ các nhóm NĐT trên các diễn đàn với mục tiêu cuối cùng là “phím hàng”, “check thông tin”. Nhận thông tin mật qua SMS, email cũng không còn là đặc quyền dành riêng cho NĐT VIP mà được mở rộng thêm cho nhiều NĐT khác. Làm giá CP từ việc chỉ có "đội lái" và doanh nghiệp (DN) thì nay có thêm cả NĐT VIP. Trong các đợt làm giá, ngoài vai trò chủ chốt của “đội lái”, các NĐT VIP cũng được tham gia nhiều hơn. Sau khi thỏa thuận với DN về cách thức ra thông tin như thế nào, “đội lái” sẽ được DN bán cho một lượng CP để tiến hành đẩy giá. Lượng CP này sẽ tiếp tục được bán cho một nhóm NĐT VIP để tranh thủ nguồn lực đẩy giá. Việc phân tán CP này có thể dẫn đến một ai đó chốt lời trước khiến cho kế hoạch bị đổ bể, nhưng hiếm khi xảy ra vì làm như vậy sẽ bị tẩy chay không thương tiếc và lần sau không thể tham gia đẩy giá CP khác. Ở đây, các NĐT VIP với quan hệ của mình, cũng có thể kêu gọi các chiến hữu cùng tham gia đẩy giá CP, như vậy nguồn lực sẽ tăng lên nhiều lần. Đứng trên góc độ của một NĐT thông thường, nếu nghe thông tin CP được đánh lên từ một đội “lạ hoắc” nào đó sẽ không thể có tác dụng bằng việc biết được CP đó do người quen của mình trực tiếp đẩy giá. Lập luận được đưa ra: Chẳng lẽ người quen với mình lại nói xạo? Thực tế đã có không ít người phải lãnh quả đắng. Đã từng có những trường hợp người từ trong DN bắn tin cho người quen sẽ đánh CP từ 3.0 lên 4.0 nhưng rốt cuộc CP lại giảm xuống 2.0. Nhiều NĐT tưởng rằng mình được tham gia đẩy giá CP nhưng thực chất chỉ là con tốt trong tay các “đội lái” để nhử các NĐT khác.
Có gan phải kiên nhẫn
Sau khi NĐT nhận được thông tin về CP nào đó sẽ được làm giá, yếu tố tiếp theo sẽ là theo dõi KLGD của CP đó như thế nào, con số chấp nhận được phải là 100.000 CP/phiên. Đối với những NĐT nhận được thông tin sớm, đôi khi CP chỉ mới khớp 20.000-30.000 đơn vị/phiên sẽ theo dõi thêm, nếu con số này tăng nữa dấu hiệu cho thấy CP đã được tạo thanh khoản và yên tâm mua vào. Đây cũng chính là kịch bản lý tưởng cho một CP được đánh lên, chỉ cần thanh khoản tốt CP dù không tăng hoặc giảm giá, cũng có thể bán ra hoặc cắt lỗ an toàn. Nhiều NĐT đã đủ khả năng nhận ra việc CP có dấu hiệu tạo thanh khoản, nên thông thường quá trình này diễn ra khá lâu để “giống thật”. Nhiều người vì biết tin sớm quá đã mất kiên nhẫn, khi vừa bán ra CP lại tăng giá. GGG (Ô tô Giải Phóng) có thể xem là điển hình cho việc được nâng cấp thanh khoản, hiện nay mỗi ngày CP này khớp từ 200.000-300.000 CP trong khi quý I chỉ là vài chục nghìn. Hoặc như trường hợp của TST (Dịch vụ kỹ thuật viễn thông) trước mỗi đợt tăng giá thường có KLGD tăng mạnh. SJM (Sông Đà 19) những ngày qua tăng khá mạnh với KLGD vài trăm nghìn CP mỗi phiên nhưng cách đây 1 tháng CP này có những phiên khớp chưa đến 10.000 CP. Ngoài những thông tin theo kiểu không chính thống như CP sắp được đánh lên, sắp có tin “khủng” thì yếu tố thông tin chính thống cũng được chú trọng không kém. Các thông tin này sẽ do các CTCK cung cấp thông qua các buổi hội thảo và báo cáo. Năm 2009, chỉ cần CTCK phát hành báo cáo NĐT tự hiểu có khả năng, được đánh lên. Nhưng với việc rất nhiều CTCK tham gia làm báo cáo, NĐT đã chọn lựa kỹ càng hơn. Đã từng có trường hợp NĐT sau khi đọc báo cáo phân tích về một DN tiềm năng thay vì tiếp tục mua vào lại đem bán ra vì chất lượng báo cáo quá kém, không nêu được ưu điểm của DN. Một yếu tố khác mặc dù đơn giản nhưng cũng không kém phần quan trọng chính là P/E của CP. Lập luận của các NĐT khi chọn CP có P/E thấp là nếu có giảm cũng không giảm quá sâu. Và bản thân các đội làm giá cũng đang hướng đến những CP có P/E thấp để tạo cảm giác cho NĐT rằng “CP giá còn rẻ, còn tăng”.
“Đội lái” và những cuộc chiến
Một nhóm NĐT hoặc các tổ chức hợp tác với nhau có khả năng tác động đến giá CP có thể xem là một “đội lái”. Vị thế của các “đội lái” được phân chia theo tầm ảnh hưởng trên thị trường, mối quan hệ và nguồn vốn. Chính vì vậy để khẳng định tên tuổi cũng như dằn mặt đối thủ cạnh tranh, đã xảy ra không ít cuộc chiến giữa các "đội lái".
Ứng biến linh hoạt
Những NĐT có kinh nghiệm đều nhận xét: So với trước, các “đội lái” hiện giờ có kế hoạch bài bản hơn, thậm chí còn có cả kế hoạch B nếu kế hoạch A đổ bể. Các “đội lái” biết PR, tạo dựng uy tín cho mình, thường gửi tin nhắn hoặc gọi điện cho NĐT với nội dung gây sốc như: “5 phút nữa tăng trần”, “Đầu giá sàn cứ mua, cuối phiên sẽ trần”, hoặc “Anh muốn mua bao nhiêu để mai em đẩy hàng ra?”. Chỉ vài lần như vậy, NĐT cá nhân sẽ bị thu phục trước cách thể hiện có vẻ “anh cả” của “đội lái”. Rủi ro lớn nhất đối với các “đội lái” trước đây chính là diễn biến thất thường của thị trường chung, nhưng hiện nay các đội này cũng đã tìm ra được cách khắc chế. Thay vì đánh CP tăng nóng, tại những thời điểm thị trường lình xình các “đội lái” sẽ chủ động cho CP đi ngang để tạo ra tâm lý CP được giữ giá. Khi một mặt bằng giá mới đã được tạo thành, nếu thị trường chung diễn biến tiêu cực, CP cũng giảm không quá sâu. Như trường hợp CP S. được đồn sẽ đánh từ 3.0 lên 7.5 và giai đoạn 2 sẽ từ 7.5 lên đến 10.0. Nhưng khi tiến lên đến 6.0, diễn biến của thị trường không thật thuận lợi, dường như đã có động thái kìm giá của các “đội lái” và chờ đợi CP điều chỉnh giá do phát hành CP ưu đãi xuống chỉ còn hơn 2.0. Tại mức giá khá hấp dẫn này, CP S. lại có hàng loạt phiên tăng lên đến 3.5. Trong trường hợp này, thay vì xả hàng bằng mọi giá, “đội lái” đã khá bản lĩnh khi ôm lại CP để đánh lên lại và bắn tin ra ngoài sẽ đánh CP trở về mức giá 5.0. Hoặc như trường hợp của một CP nóng trong họ Dầu khí, khi đang được đẩy lên ngon trớn thì thị trường chung điều chỉnh. Thay vì vung tiền ra để đỡ giá CP, “đội lái” CP đã chấp nhận để CP giảm trở lại, chờ khi thị trường đảo chiều mới bung tiền ra để đánh lên tiếp. Điều này một mặt hạn chế được nguồn cung CP ra thị trường, tránh việc giá bị giảm quá sâu; mặt khác, mua 1 triệu CP với giá đáy để đẩy CP lên sẽ hiệu quả hơn so với việc bỏ ra nhiều tiền hơn để đỡ CP với giá cao.
Những cuộc thanh trừng
Mới đây, NĐT đã rỉ tai nhau về một vụ dằn mặt giữa hai CTCK trong việc đánh lên một CP thuộc nhóm ngành bất động sản. Thông thường trước khi đánh lên một CP nào đó, các “đội lái” chuyên nghiệp sẽ phải tìm hiểu rất kỹ lưỡng cơ cấu cổ đông của doanh nghiệp xem có một “cá mập” ẩn mình nào không. Nếu có, “đội lái” sẽ tiến hành thương lượng với “cá mập” đó để tránh trường hợp bị đánh úp. Thế nhưng có một CTCK đã gom mua CP mà không thương lượng vì tưởng rằng đã mua hết số CP từ đối thủ bán ra. Rốt cuộc, sau khi đánh lên được vài phiên, CTCK này đã bị CTCK đối thủ xả hàng rất mạnh, kèm theo thị trường chung đang diễn biến không thuận lợi, nên CP đã giảm về dưới cả mức giá trung bình mua vào. Một trường hợp khác là tin đồn về việc 4 CTCK liên minh để đánh CP T. tăng giá. Cả 4 CTCK này đã thỏa thuận với một “cá mập” để không bị rơi vào tình trạng xả hàng. Kết quả là CP T. này đã tăng giá được 3 phiên nhưng sang đến phiên thứ tư, một lượng hàng từ “cá mập” kia đã được tung ra ồ ạt và CP T. đã giảm từ mức giá 4.0 xuống dưới 3.0 nên cả 4 CTCK phải ôm hàng. Theo nhận định của giới đầu cơ, các “đội lái” thường có vốn liếng tính bằng nghìn tỷ đồng và được dẫn dắt bởi các “chủ tướng” có số má hẳn hoi. Nhưng hiện nay, với việc số lượng CP tăng lên, các “đội lái” cũng trở nên đa dạng hơn. Hàng loạt doanh nghiệp niêm yết chỉ có vốn hóa 200-300 tỷ đồng, nên một nhóm NĐT cá nhân bỏ tiền ra đã có thể tác động đến giá CP hoặc thâu tóm. Nhiều “đội lái” vì quá hăng máu đã sử dụng đòn bẩy với tỷ lệ cao để đẩy CP, nhưng khi thị trường chung điều chỉnh, đã phải lãnh quả đắng vì CP bị bán ra sụt giảm thê thảm. Hiện nay một số “đội lái” mới nổi cũng khiến những anh cả kỳ cựu “ngứa mắt” và tất yếu những cuộc dằn mặt đã xảy ra. Một số “đội lái” tân binh mặc dù vốn mỏng nhưng lại thích thể hiện mình nên đã sử dụng đòn bẩy với tỷ lệ rất lớn để đánh CP, điều này đã tạo ra áp lực cho chính các “đội lái”. Thế mạnh của “đội lái” là tỷ lệ đòn bẩy có thể lên đến 10-15 lần, nắm được điều này các đối thủ khác bằng nhiều cách đã tìm được nguồn hàng cho riêng mình. Sau đó đợi các “đội lái” tân binh say máu đánh CP tăng hỗn được vài phiên sẽ tiến hành xả hàng thật lực. Với nguồn vốn tự có khá mỏng, các “đội lái” tân binh đã không thể chịu nổi cơn lũ xả hàng của các đối thủ. Trong nhiều trường hợp, “đội lái” cũng là tác nhân khiến CP không thể tăng giá được. Nhiều NĐT hễ xem thấy cơ cấu của DN nào có tên của một CTCK là lập tức tránh xa, vì chỉ cần có một “đội lái” khác nhảy vào đánh lên sẽ bị CTCK này đem hàng xả ra hàng loạt.

Theo Thái Ca
Báo Sài Gòn Giải Phóng – Đầu tư tài chính

Chủ Nhật, 11 tháng 7, 2010

7 tỷ USD vốn ngoại vào chứng khoán

Riêng 6 tháng đầu năm, vốn đầu tư gián tiếp chuyển ròng đạt 1,8 tỷ USD.
(Sau 10 năm phát triển, quy mô thị trường chứng khoán Việt Nam tăng 30-40 lần, từ mức 0,5% GDP năm đầu tiên lên hơn 40% GDP hiện nay.)

Tổng giá trị danh mục đầu tư của khối ngoại tại thị trường chứng khoán Việt Nam hiện đạt khoảng 7 tỷ USD. Riêng 6 tháng đầu năm, vốn đầu tư gián tiếp chuyển ròng đạt 1,8 tỷ USD.

Tại tọa đàm nhân kỷ niệm 10 năm thị trường chứng khoán Việt Nam do Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và Câu lạc bộ Nhà báo Chứng khoán phối hợp tổ chức hôm 11/7 ở Hà Nội, Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Vũ Bằng cho biết mức vốn đầu tư gián tiếp đã được cải thiện đáng kể so với năm ngoái cho dù còn thua xa đỉnh cao 11-12 tỷ USD.

Huy động vốn qua thị trường chứng khoán trong những năm gần đây đạt bình quân hơn 120.000 tỷ đồng mỗi năm, tương đương một phần ba tổng mức đầu tư toàn xã hội.

Trước đó, Ngân hàng Nhà nước cũng cho biết luồng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) tiếp tục duy trì xu hướng thặng dư sau khi bị thâm hụt trong năm 2009. Trong quý II, các nhà đầu tư nước ngoài mua ròng trên thị trường chứng khoán khoảng 500 triệu USD. Tính chung 6 tháng đầu năm 2010, vốn FII ròng đạt mức thặng dư 1,8 tỷ USD (cùng kỳ năm ngoái vẫn còn thâm hụt 492 triệu USD).

Theo Ngân hàng Nhà nước, vốn FII thặng dư lớn là do đầu năm nay Chính phủ đã phát hành thành công 1 tỷ USD trái phiếu ra thị trường quốc tế. Nếu loại trừ nguồn trái phiếu này, trong 6 tháng đầu năm các nhà đầu tư nước ngoài vẫn mua ròng trên thị trường chứng khoán Việt Nam khoảng 800 triệu USD (bao gồm cả thị trường OTC), trong đó riêng quý I là 290 triệu USD.

Cùng với FII, các nguồn thu ngoại tệ khác như giải ngân vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), kiều hối, vay và tài trợ nước ngoài... giúp cán cân vốn 6 tháng đầu năm thặng dư hơn 7 tỷ USD. Vì vậy, xét về tổng thể cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam hiện vẫn thặng dư hơn 3,4 tỷ USD cho dù thâm hụt cán cân vãng lai lên trên 3,57 tỷ USD.

Thứ Bảy, 10 tháng 7, 2010

Quỹ nước ngoài: Ở lại hay ra đi?

Việc thoái vốn của một quỹ do Indochina Capital quản lý năm ngoái những tưởng đã chìm vào quên lãng, giờ người ta lại hỏi nhau như NAV của quỹ ấy còn bao nhiêu.
Giới quản lý quỹ nước ngoài ở Việt Nam vốn ít gặp gỡ và trao đối thông tin với nhau. Vậy mà những tuần gần đây khác hẳn. Nhân viên, lãnh đạo quỹ lớn, quỹ nhỏ gặp nhau ăn trưa, ăn tối, bàn luận, hỏi thăm tình hình. Việc thoái vốn của một quỹ do Indochma Capital quản lý năm ngoái những tưởng đã chìm vào quên lãng, giờ người ta lại hỏi nhau như NAV (tổng giá trị tài sản ròng) của quỹ ấy còn bao nhiêu đã thanh lý hết mấy cổ phiếu OTC và những khoản đầu tư vào một số công ty tư nhân chưa... Sự chuyến động có phần bất ngờ này bắt nguồn từ khả năng VEIL (Viett nam Enterprise Investments Limited) do Dragon Capital quản lý có thể thoái vốn và ra đi.
Tỷ lệ thanh lý 50/50
Ông Dominic Scriven, Tổng giám đốc Dragon Capital, không giấu giếm: “Tôi đã bị “quay” bị “nướng cháy” trong các cuộc gặp mặt với các nhà đầu tư của VEIL ở châu âu suốt hơn hai tuần qua” . Các ông chủ của VEIL (NAV đến ngày 18/6/2010 là 416 triệu đô la Mỹ) và hai quỹ lớn khác của Dragon Capital là Vietnam Dragon Fund Limited (NAV 156 triệu đô la Mỹ; Vietnam Growth Fund Limited VGF (NAV 228 triệu đô la Mỹ) đã yêu cầu ban quản lý quỹ phải mua lại chứng chỉ quỹ đến 15% tổng số lưu hành, cơ cấu danh mục đầu tư, giảm phí quản lý hàng năm. “Cả ba đòi hỏi chúng tôi đã và đang tiếp tục thực hiện, nhưng một tỷ lệ nhất định nhà đầu tư vẫn chưa hài lòng, họ muốn thanh lý quỹ. Tôi thực sự không biết điều gì sẽ xảy ra tại đại hội các nhà đầu tư ngày 12/7/2010 ở TPHCM. Tỷ lệ thanh lý và giữ lại quỹ đang là 50/50” - ông Scriven nói. Theo quy định của VEIL, chỉ cần các nhà đầu tư nắm giữ, hoặc được ủy quyền, tối thiểu 25% chứng chỉ quỹ đang lưu hành có mặt là đại hội đồng cổ đông có thể tiến hành họp. Tối thiểu 75% trong tổng số 25% người nắm chứng chỉ có mặt đó biểu quyết thanh lý (tương đương 18,75% tổng số chứng chỉ quỹ) thì số phận của VEIL coi như được định đoạt. Nếu số nhà đầu tư tham gia đại hội nắm giữ tỷ lệ chứng chỉ càng cao, thì tỷ lệ biểu quyết tối thiểu để thanh lý hoặc giữ lại cũng tăng theo. Vấn đề là bao nhiêu nhà đầu tư tham gia đại hội với lượng chứng chỉ quỹ có trong tay như thế nào. Hiện tại khoảng 25% cổ đông của VEIL là ở châu á, tập trung chủ yếu ở Hồng Kông. Một trong số họ như VR Capital muốn thanh lý quỹ. Trong trường hợp các nhà đầu tư châu âu tham dự đại hội đông đảo, thì biểu quyết thanh lý của nhóm cổ đông châu Á gặp trở ngại. Dragon Capital đã liên tục mua vào chứng chỉ quỹ VEIL và VGF từ giữa tháng 6/2010 và việc mua này đã có tác dụng. Mức độ chiết khấu của giá chứng chỉ quỹ VEIL so với NAV trên một chứng chỉ quỹ đã tăng từ -23,5% lên -18,5%, của VGF từ -28,9% lên -18%. Đây là mức chiết khấu tương đối thấp so với các quỹ đầu tư nước ngoài ở Việt Nam. Nếu đến ngày đại hội, mức chiết khấu của chứng chỉ hai quỹ trên tăng lên được -10% thì khả năng thanh lý là nhỏ. Điều này phụ thuộc không chỉ vào tiến độ mua lại chứng chi quỹ của Dragon Capital, mà còn phụ thuộc vào biến động của thị trường chứng khoán thế giới.

Những con kền kền
Theo công bố của Edmond de Rothschild ngày 25/6/2010, hiện Việt Nam có 21 quỹ nước ngoài chủ yếu đầu tư vào chứng khoán với tổng giá trị tài sản ròng 2,86 tỉ đô la Mỹ (nhóm 1), bốn quỹ đầu tư vào các công ty tư nhân (private equity) với NAV 360 triệu đô la Mỹ (nhóm 2), năm quỹ đầu tư vào bất động sản với NAV 1,15 tỉ đô la Mỹ (nhóm 3). Các quỹ nhóm 2 và 3 ít chịu áp lực thoái vốn do việc thanh lý các khoản đầu tư bất động sản hoặc tư nhân khá khó khăn, đòi hỏi thời gian dài để tìm người mua. Việc thoái vốn của Indochina Capital Vietnam Holdings năm ngoái là một ví dụ. Sau khi bán gần hết các cổ phiếu niêm yết, NAV của quỹ này tính đến cuối tháng 5/2010 còn 25,7 triệu đô la Mỹ, chủ yếu là cổ phiếu OTC và công ty tư nhân chưa thể chuyển nhượng được (nguồn: ICVH Monthly Fund Update ngày 28/5/2010). Quy mô của các quỹ nhóm 1 rất khác nhau, từ vài triệu, vài chục triệu đến vài trăm triệu đô la Mỹ. Cổ phiếu niêm yết chủ yếu blue-chips, chiếm tỷ lệ áp đảo trong danh mục đầu tư của các quỹ này. Hơn nữa, một số quỹ trong nhóm 1 đang có tỷ lệ chiết khấu giá chứng chỉ cao như DWS Vietnam Fund - 50,7%; Vietnam Equity Holding - 55,9%; Vietnam Infrastructure Ud - 47,7%.... Mức chiết khấu trung bình của chứng chỉ cả 21 quỹ là – 26,5%. So với các nước châu á, mức chiết khấu của các quỹ nước ngoài ở Việt Nam đang cao hơn hẳn. Theo Rothschild, mức chiết khấu của các quỹ ngoại ở Trung Quốc chỉ có -5%; Ấn Độ -5,3%; Hàn Quốc -6,4%; Đài Loan -2,6%. Ngay cả Thái Lan, nơi vừa có những biến động chính trị, mức chiết khấu là -18,4% cũng thấp hơn Việt Nam. Sự suy giảm của chứng khoán quốc tế nói chung, Việt Nam nói riêng là nguyên nhân chính dẫn tới tình trạng chiết khấu cao của chứng chỉ các quỹ. Trong cộng đồng đầu tư bên ngoài, đã từ lâu tồn tại những tổ chức đầu tư chuyên đi săn lùng các quỹ có tỷ lệ chiết khấu chứng chỉ cao, gây sức ép thoái vốn để kiểm lời. Giới đầu từ gọi họ là những con chim chuyên đi rỉa xác, hay “những con kền kền”. Và “các con kền kền” đó đang chú ý đến các quỹ nước ngoài ở Việt Nam. Chẳng hạn DWS Vletnam Fund từ mấy tháng nay liên tục mua vào chứng chỉ quỹ của chính họ. Ngày 22/6/2010, DWS mua vào 4,3 triệu chứng chỉ quỹ với giá từ 0,27-0,275 đô la Mỹ/chứng chỉ. Ngày 17/6/2010, DWS mua vào hơn 900.000 chứng chỉ với giá 0,2675 đô la Mỹ/chứng chỉ (mệnh giá là 1 đô la Mỹ/chứng chỉ - NV). NAV của quỹ này đến 30/4/2010 là 269 triệu đô la Mỹ, trong khi vốn hóa thị trường chỉ khoảng 140 triệu đô la Mỹ. Giả sử “những con kền kền” “tấn công” DWS, họ đang có không ít thuận lợi. Trong cơ cấu danh mục đầu tư của DWS hiện có gần 20 triệu đô la Mỹ tiền mặt, 49,5% là cổ phiếu niêm yết tính theo NAV trị giá 133 triệu đô la Mỹ. Riêng tiền mặt và giá trị cổ phiếu niêm yết đã cao hơn mức vốn hóa thị trường của quỹ, chưa kể các khoản đầu tư vào công ty tư nhân , cổ phiếu OTC, thu nhập cố định, trái phiếu và nắm giữ chứng chỉ các quỹ đóng nước ngoài (nguồn:DWS, Monthly Report update ngày 30/4/2010).
Lời Cảnh báo từ WEIL
Các quỹ nước ngoài ở Việt Nam đã nhận thấy nguy cơ bị “kền kền” “tấn công”. Họ đang phòng thủ bằng phương thức mua lại chứng chỉ quỹ, tăng cường “lướt sóng” nhằm cải thiện NAV và nhất là không để quá nhiều tiền mặt trong danh mục. Họ thậm chí mua chứng chỉ quỹ của nhau để tăng tỷ lệ sở hữu nhằm tăng sức bảo vệ, như 3,9% và 2,7% danh mục của DWS là chứng chỉ của VEIL và VGF. Trong bối cảnh đó, việc VEIL ở lại hay ra đi có ý nghĩa quan trọng. Nó không chỉ là một tảng đá ném xuống hồ, sau một vài tuần sóng lại khỏa lấp mặt nước như trường hợp của Indochina Capital. Bởi VEIL là một trong những quỹ nước ngoài đầu tiên còn tồn tại cho đến hôm nay, là quỹ lớn nhất đầu tư vào cổ phiếu niêm yết, thâm niên và uy tín nhất trong giới quản lý quỹ ở Việt Nam. Nếu VEIL phải thoái vốn thì các quỹ nước ngoài khác sẽ bị ảnh hưởng ít nhiều. Tổng giám đốc một quỹ đầu tư nước ngoài tầm trung với vốn 100 triệu đô la Mỹ cho biết quỹ ông vừa huy động thêm được 20 triệu đô la Mỹ, nhưng các cổ đông mới có thể trì hoãn giải ngân để chờ động thái của VEIL. Sự “nhòm ngó” của “những con kền kền” vào VEIL đang là lời cảnh báo cho mô hình quỹ đầu tư ở Việt Nam. Cổ đông của các quỹ đang là những người chịu thiệt hại. Năm 2007, khi VN-Index lên đỉnh 1.170 điểm, NAV của các quỹ tăng cao, các công ty quản lý quỹ đã nhận được hàng chục, thậm chí cả trăm triệu đô la Mỹ tiền thưởng do sự tăng vọt của NAV. Thế nhưng bây giờ khi NAV xuống dốc, cổ đông là người duy nhất gánh chịu mất mát, các quỹ vẫn thu phí quản lý 2%/năm trên số vốn của quỹ. Ngay cả trong trường hợp VEIL được giữ lại VEIL và các quỹ nước ngoài phải đối mặt với một công cuộc cải tổ sâu rộng, theo đó các công ty quản lý quỹ phải giảm phí quản lý tối đa, làm việc tích cực hơn để tìm kiếm lợi nhuận cho cổ đông. Nếu không, chỉ cần thị trường chứng khoán Việt Nam khởi sắc, cổ đông các quỹ có thể lại gây sức ép thanh lý, rút tiền về. Về phía Việt Nam, tổng số tiền các quỹ nước ngoài đã đổ vào nước ta tính theo NAV hiện nay khoảng 4,3 tỉ đô la Mỹ. Đây là số tiền lớn và sự rút lui của nó, nếu có, sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế, đặc biệt tỷ giá, cán cân thanh toán, thị trường tài chính. Việc có các chính sách thích hợp nhằm điều tiết, giữ chân luồng vốn này lâu dài là cần thiết trong thời điểm hiện nay.